Click tracking – Cách vận dụng vào affiliate để tăng vọt lợi nhuận.

Khi mới bắt đầu làm affiliate, thì việc hiểu cách thiết lập tracking rất khó. Rất nhiều người đã phải vò đầu bứt tai.

Đó là một vấn đề kỹ thuật lớn nhất mà affiliate phải vượt qua.

Sau khi đọc xong bài viết này, bạn sẽ hiểu được tracker có thể dùng làm gì, nó hoạt động thế nào, dùng như thế nào. Điều này sẽ cho bạn một lợi thế rất lớn.

Đối với một affiliate thành công, thì tracker là vô cùng quan trọng.

Nó cho phép ta thu thập dữ liệu từ người dùng, và từ đó có thể dễ dàng tối ưu và tăng lợi nhuận.

Ok, bắt đầu chi tiết.

Click tracking là gì? Click tracking là một phương pháp mà các marketer sử dụng để theo dõi người dùng, và thu thập dữ liệu của họ, cho vào bảng thống kê. Click tracking có hai chức năng chính, thu thập dữ liệu và tối ưu. Các dữ liệu thu thập được có thể bao gồm: địa điểm, nguồn giới thiệu, hoạt động trên website.

Các thuật ngữ click tracking phổ biến

Trước khi đi sâu vào chủ đề, chạy ta cần hiểu một số thuật ngữ.

Khi mới bắt đầu dùng công cụ tracking, tôi không hiểu “subid” là gì, “tracking id” là sao cả. Chúng làm tôi khá đau đầu.

Khó hiểu hơi nữa, là mỗi nơi họ lại dùng một thuật ngữ khác nhau.

Mỗi công cụ lại có các thuật ngữ riêng để mô tả tính năng của họ. Nên tôi nghĩ tốt hơn hẳn là đưa cho bạn một danh sách tổng quan.

KPI: Một chỉ số dùng để đo mức độ hiệu quả của một biến dữ liệu cụ thể. Nó chính là giá trị chuẩn đã được định ra.

User-Agent: Thông tin từ trình duyệt của người dùng, cho phép xác định loại trình duyệt, hệ điều hành và các dữ liệu khác.

Query String: Cái này hơi khó hiểu, nên sẽ lấy ví dụ minh họa.

Đây là hình ảnh:

Chi tiết hơn nhé. Đối với đường link này:

https://www.thongthienphong.com?utm_medium=online-display&utm_source=yelp

Thì Query String chính là: ?utm_medium=online-display&utm_source=yelp

URL Parameter là các cặp: utm_medium=online-display và cặp utm_source=yelp

Tracking ID: Còn được gọi là ClickID: Là một ID được tạo ra bởi tracker, nguồn traffic và / hoặc affiliate network. Nó dùng để xác định click trên các nền tảng tương ứng.

SubID: Rất giống tracking ID, SubID được dùng để chuyển thông tin của click đến tracker hoặc affiliate network. Cái này thường gây khó hiểu, vì các network thường dùng các tên gọi URL Parameter khác nhau. Và cũng như tracking ID, nó được dùng để chuyển các biến dữ liệu khác nhau.

Offer Link: Affiliate network sẽ cho bạn một đường link để bạn mang đi quảng bá. Cái link đó chứa công cụ tracking của họ, và họ thường gọi đó là tracking link. Trong bài viết này, để cho tiện, tôi sẽ gọi tất cả tracking link là offer link.

Postback: Cho phép Tracking ID và một số thông tin khác được gói gọn lại dưới dạng một URL và sẽ chuyển thông tin đó về tracker, để tiện cho việc báo cáo dữ liệu.

Click tracking hoạt động như thế nào?

Khi một người dùng click vào tracking link, thông tin về người dùng đó sẽ được tracker lưu lại, sau đó tracker sẽ gửi họ đến link gốc (có thể là landing page hoặc offer page mà bạn đã thiết lập).

1. Thu thập dữ liệu.

Bây giờ, bạn đã hiểu cơ bản tracker hoạt động ra sao rồi, hãy tiếp tục tìm hiểu những dữ liệu mà họ cho phép ta thu thập.

Dữ liệu chuẩn.

Dữ liệu chuẩn mà bạn được truy cập sẽ được xác định bởi công cụ traffic mà bạn dùng.

Tuy nhiên, đã số các tracker 2019 cho chúng ta các thông tin như:

  • Loại thiết bị (Mobile, Tablet, Desktop).
  • Thông tin thiết bị (Nhà sản xuất, kiểu máy, hệ điều hành).
  • Trình duyệt ((Chrome, Safari, Firefox…)
  • Nhà mạng, hay còn gọi là ISP – Internet Service Provider, và địa chỉ IP.
  • Thông tin GEO như quốc gia, tỉnh, bang, vùng, thành phố, mã bưu điện Zip code / Postal code.
  • Thông tin referrer.

Dữ liệu chuẩn sẽ được tự động thu thập mỗi khi người dùng click vào tracking link. Tracker sẽ thu thập.

Sau đó, tracking link sẽ chuyển hướng người dùng tới landing page hoặc offer page. Và trong lúc chuyển hướng, nó sẽ lưu lại user agent, dữ liệu IP và referral.

Vì đã thu được thông tin này, công cụ tracker sẽ cho ta bảng thông số cần thiết để tiện cho việc tối ưu.

Dữ liệu không cố định.

Không như dữ liệu chuẩn, dữ liệu không cố định sẽ được chuyển qua URL, tức là bạn có thể chuyển bất kỳ dữ liệu nào mà bạn muốn.

Nhiều nguồn traffic có mã dữ liệu không cố định – dynamic tracking tokens – cho phép chúng ta chuyển thông tin từ nguồn traffic vào tracking URL (tự động).

2. Tracking Parameters và Macros.

Không phải tất cả nguồn traffic đều có dynamic tracking macro, nhưng nếu nó có, thì tôi khuyến khích bạn nên tận dụng chúng.

Tracking macro cho phép chúng ta tự động chuyển thông tin thông qua tracking link với URL parameters.

Trong ví dụ trên tôi đã thiết lập tracking macro của Bing Ads trên tracker, đối với tracker, tôi dùng RevMax.

Name: Chúng ta muốn tên của nó ở bản báo cáo là gì, thì ta đặt tên đó.

Parameter: Đó sẽ là nhãn của URL parameter trên công cụ tracking.

Value/Macro: Cho phép ta biết nguồn traffic, trong trường hợp này là Bing Ads. Hiểu đơn giản là nguồn traffic sẽ “tìm kiếm và thay thế” các macro đó, và chuyển cho ta thông tin họ có về cái click đó.

Nếu tôi muốn chạy chiến dịch Bind Ads với macro đó, thì đường link sẽ như vầy:

https://ppcmode.com?s1={CampaignId}&s2={Campaign}

Khi một người dùng click quảng cáo Bing Ads, thì Bing sẽ thay đổi đường link thành:

https://ppcmode.com?s1=335673075&s2=Campaign-Name

Công cụ tracker sẽ nhận tất cả các dữ liệu này, ghi lại để cho chúng ta xem.

3. URL tracking Parameters.

Như đã đề cập bên trên, không phải tất cả nguồn traffic đều cung cấp các mã dữ liệu không cố định.

Như là Facebook, Snapchat, Quora, họ không dùng nó.

Nhưng nó không có nghĩa là bạn không thể chuyển thông tin từ nguồn traffic vào tracker.

Nó có nghĩa là tôi phải lấy thông tin và điền thủ công.

Một vài dữ liệu có thể được chuyển qua URL parameter bao gồm:

  • Tên hoặc Id của banner / Mẫu quảng cáo.
  • Placement (Tên miền, Site ID…).
  • Nhân khẩu học (Tuổi, giới tính…).
  • Sở thích.

Giả sử tôi muốn target vào 25 – 50 phụ nữ trên Facebook newsfeed, nhưng tôi muốn biết độ tuổi nào có chuyển đổi tốt nhất.

Trong trường hợp này, sẽ cần nhiều chiến dịch để target vào các đối tượng khác nhau. Và tôi muốn tạo một chiến dịch target vào phụ nữ từ 25 – 30.

https://ppcmode.com?age=25-30&gender=Female&placment=NewsFeed

Và một chiến dịch khác target vào phụ nữ 31 – 35:

https://ppcmode.com?age=31-35&gender=Female&placment=NewsFeed

Lặp lại quy trình này đối với các phân khúc dữ liệu mà tôi muốn thu thập.

Thêm dữ liệu vào URL khá là mệt, vì bạn phải đảm bảo điền đúng dữ liệu vào URL và liên kết nó với viết nhắm mục tiêu.

Nhưng, cố gắng làm thêm một tí, sẽ tăng cơ hội tìm kiếm lợi nhuận. 

4. Theo dõi chuyển đổi.

Bây giờ chúng ta đã hiểu URL parameter và các chức năng của nó. Hãy bắt đầu học cách chuyển dữ liệu cho vendor, affiliate network và khách hàng.

Tất cả dữ liệu ta thu thập được, cả cố định và không cố định, đều được gán cho một Tracking ID.

Mỗi công cụ tracker lại gọi Tracking ID với một tên khác nhau. Có chỗ họ gọi là Click ID hoặc Sub ID.

Cho dù họi gọi nó là gì đi nữa, thì Tracking ID cũng chỉ có một mục đích duy nhất.

Phải hiểu nó, vì tracking ID giữ tất cả các thông tin về click chỉ với một cái tên.

Giống như là, bạn có đứa bạn tên Phu, và có một người muốn tìm Phu, họ không biết Phu là ai, nên họ bảo bạn hãy gọi cho Phu.

Và sau khi bạn biết là họ cần tìm Phu, bạn sẽ lấy điện thoại gọi cho anh ta, vì bạn đã biết số điện thoại rồi.

Tracking ID cũng không khác mấy so với ví dụ trên.

Nó cho phép công cụ tracking hiểu được rằng cái click đó là được giới thiệu, vì nó tên là tracking ID, và tất cả dữ liệu được liên kết với nó.

Tracking ID cho ta biết click đó ở trên công cụ tracker có phải là một chuyển đổi trên network không.

Điều đầu tiên ta cần làm là tìm xem URL parameter nào mà affiliate network dùng làm tracking ID.

Tôi sẽ dùng affiliate network YTZ làm ví dụ, nhưng đối với network nào thì cũng tương tự vậy thôi.

Điều khác biệt duy nhất là URL parameter họ dùng cho tracking ID và macro chuyển dữ liệu được đặt với cái tên khác.

YTZ hiện tại cho phép chúng ta chuyển 5 điểm dữ liệu khác nhau cho họ, thông qua offer link.

Tôi dùng s1 làm tracking ID và chuyển các dữ liệu khác thông qua s2 – s5.

Nên khi ta thêm offer link vào công cụ tracking, nó sẽ là như vầy.

Nên bây giờ, khi một người dùng click vào tracking link, nó sẽ thu thấp thông tin của họ và gán cho họ một tracking ID.

Sau đó, người dùng sẽ được chuyển hướng tới offer URL (giả sử là chiến dịch direct link) và tự động được kèm theo tracking ID.

Link sẽ được thay đổi từ:

https://ytztrackinglink.com/?s1={tracking_id}

Thành:

http://ytztrackinglink.com/?s1=5c52b68016b5309620172588l105lgdfmlwz2p4gx6t7b

Bây giờ nếu tôi kiểm tracking thông báo từ YTZ, ta có thể biết được là tracking ID có hoạt động không.

Như bạn đã thấy, click đã được track với YTZ bằng tracking ID, được đánh dấu là subID1 (s1).

Khi có chuyển đổi, YTZ sẽ cho ta thấy tracking ID đó, và chúng ta sẽ cập nhật tracker để xem cái click nào là ra tiền.

Bây giờ ta sẽ cập nhật tracking ID, hoặc thiết lập một cái gọi là postback.

Một postback, nó đơn giản chỉ là một URL cho phép một tracking ID đã tạo được chuyển qua URL parameter, và lưu dữ liệu đó dưới dạng một chuyển đổi, và hiển thị lên tracker.

Để thiết lập, chúng ta cần lấy postback URL và cho vào affiliate network, hãy đảm bảo rằng bạn dùng đúng macro.

Macro chính xác là cái có parameter mà chúng ta đã gắng tracking ID vào offer. Trong trường hợp này nó là “s1”, nên ta sẽ dùng macro s1 {SUB1}.

Và xong rồi, đã thiết lập chuyển đổi xong.

Khi có chuyển đổi, công cụ tracker sẽ tự động cập nhật, sau khi affiliate network gửi tracking ID lại cho chúng ta thông qua postback.

Cái này rất hay.

Nó cho phép ta giữ bí mật về dữ liệu, không tiết lộ với affiliate network. Tất cả những gì họ thấy là ID, nhưng ta thì biết tất cả dữ liệu thống kê.

Note: Có thể có người không đồng ý với tôi nên tiện thể nói luôn. Dữ liệu bạn thu thập được là nền tảng của lợi nhuận. Vì thế, tôi tin rằng nên giữ bí mật nhất có thể. Mặc dù hầu hết các affiliate network rất đáng tin cậy, ta chỉ sợ rằng affiliate manager sẽ chia sẻ dữ liệu thu được với các affiliate khác. Và bạn cũng không muốn có thêm đối thủ đâu nhỉ. Điều này diễn ra thường xuyên hơn bạn nghĩ đấy, vì các affiliate manager khác từng chia sẻ các dữ liệu này với tôi rồi, họ làm vậy để khuyến khích tôi test offer.

5. Sử dụng dữ liệu thu thập được.

Nếu ta không thể sử dụng dữ liệu, thì tất cả thông số đó sẽ là vô dụng.

Đây là lúc ta cần các bản thông báo chiến dịch, nó cho phép ta nghiên cứu KPI để xem các thông số hiệu quả nhất.

Nghiên cứu dữ liệu có được, ta sẽ xác định được đâu là ROI tốt, sau đó ta sẽ tạo chiến dịch, target vào những thông số tốt.

Quá trình này cho phép ta tìm những KPI có hiệu suất cao, và tiếp tục tạo các chiến dịch lợi nhuận từ dữ liệu thu được.

Điều đó sẽ không thể làm được nếu không có công cụ tracker.

Dữ liệu sẽ cho ta thấy sự khác biệt giữa chiến dịch lợi nhuận và chiến dịch không lợi nhuận.

Hình trên, tôi đã chia KPI thành hai đối tượng: Loại thiết bị và Thành phố.

Và bạn đã thấy, thiết bị Android tại Toronto không chuyển đổi tốt bằng các thành phố khác.

Nên rất có thể tôi sẽ dừng target vào Toronto.

Nhưng,

Nếu tôi không làm được vậy, thì với công cụ tracker, tôi vẫn có lựa chọn khác.

6. Post-click redirect rules.

Đa số các công cụ tracker hiện nay đều có chức năng là post-click redirect rules – Luật chuyển hướng.

Trên ví dụ trên, vì Toronto không có hiệu quả cao, nên tôi có thể chuyển hết traffic từ Toronto vào offer khác, landing page khác, hoặc thậm chí là chiến dịch khác.

Đây là cách làm trong trường hợp ta không để dừng traffic đó, không thể pause.

Ví dụ: Nếu offer chính mà bạn đang chạy chỉ chấp nhận traffic từ Canada, nhưng nguồn traffic lại gửi cho bạn 5% – 10% traffic từ các quốc gia khác, bạn có thể chuyển hướng chúng đến offer có GEO phù hợp.

Kết luận.

Cuối cùng cũng xong, bây giờ, bạn cũng tương đối hiểu được sức mạnh của công cụ tracker rồi.

Nó cho phép ta thống kê dữ liệu. Và tối ưu để đạt doanh thu lớn nhất.

Đó là lợi thế rất lớn so với những người không dùng công cụ tracker.

OK, sẽ còn nhiều bài viết hay ho khác, đợi nhé.

Nguồn: ppcmode.com

Scroll to Top